
Tính vị qui kinh:
Ngọt hơi ôn, qui kinh Can thận.
Theo Y văn cổ:
Thành phần chủ yếu:
B-sitosterol, mannitol, stigmasterol, campesterol, rehmannin, catalpol, arginine, glucose.
Tác dụng dược lý:
A.Theo Y học cổ truyền:
Dưỡng huyết tư âm, bổ tinh ích tủy. Chủ trị các chứng huyết hư, phụ nữ kinh nguyệt không đều, băng lậu .can thận âm hư, chứng tiêu khát, tinh huyết hư.
Trích đoạn Y văn cổ:

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
Ứng dụng lâm sàng:
Trên lâm sàng Đông y, thường dung Thục địa trong các bài thuốc để trị các chứng sau:
1.Trị chứng huyết hư kinh nguyệt không đều ở phụ nữ hoặc các chứng huyết hư khác như sắc da tái nhợt, váng đầu, hoa mắt, ù tai, thiếu máu: thường dùng bài Tứ vật thang (Cục phương) gia giảm.
2.Trị chứng âm hư ( hư nhiệt sốt âm ỉ vào chiều tối nặng hơn, sôt kéo dài, ra mồ hôi trộm, môi khô, lưỡi thon đỏ, mạch tế, sác.) thường gặp trong các bệnh nhiễm thời kỳ hồi phục, bệnh ung thư suy kiệt, bệnh chất tạo keo, viêm đa khớp dạng thấp, bệnh suy giảm miễn dịch . tùy tình hình bệnh lý có thể chọn dùng các bài sau:
Đối với những bệnh viêm thận mạn, huyết áp cao, tiểu đường, suy nhược thần kinh thể âm hư, dùng bài Lục vị gia giảm có kết quả tốt, có thể cải thiện chức năng thận ( Nghiên cứu dược lý bài Phức phương Lục vị địa hoàng hoàn, Tác dụng của thuốc đối với huyết áp và chức năng thận đối với mô hình viêm thận của chuột trắng to - Tạp chí Nội khoa Trung hoa 12:23-25,1964.
3.Trị hư suyễn: Kinh nghiệm cổ nhân có nói: " Thục địa là thuốc trị hư đờm". Bệnh nhân hư suyễn có thể dùng Thục địa uống thay trà phối hợp với Ngưu tất càng tốt. Có thể dùng các bài:
4.Trị táo bón do âm hư: thường trở thành tập quán dùng Thục địa 80g sắc với thịt nạc heo uống.
5.Trị tiểu đường: dùng bài:
6.Trị huyết áp: mỗi ngày dùng Thục địa 20 - 30g liên tục trong 2 tuần. Trị 62 ca kết quả tốt, huyết áp và cholesterol đều hạ, triglycerid giảm, não huyết lưu đồ và điện tâm đồ đều được cải thiện.
7.Trị viêm thoái hóa cột sống: dùng Thục địa 30 cân, Nhục thung dung 20 cân, đều sấy khô, tán bột mịn, Cốt toái bổ, Dâm dương hoắc, Kê huyết đằng, mỗi thứ 20 cân, La bạc tử 10 cân, sắc thành cao còn 22 cân, gia mật 3 cân, trộn đều luyện thành hoàn nặng 2,5g/hoàn, mỗi lần uống 2 hoàn, ngày uống 2 - 3 lần, liệu trình một tháng. Đã trị trên 3 vạn ca, theo 1000 ca được thống kê: kết quả tốt 803 ca, tiến bộ 141 ca, không kết quả 56 ca, phần lớn trong 1 - 2 liệu trình có kết quả ( Lưu Bá Linh, Phân tích lâm sàng 1.000 ca viêm thoái hóa cột sống, Tạp chí Trung y Liêu Ninh 1982,3:40).
8.Trị tế bào thượng bì thực quản tăng sinh: dùng Lục vị địa hoàng gồm: Thục địa, Sơn thù, sơn dược, trạch tả, Phục linh, Đơn bì theo tỷ lệ 8:4:4:3:3:3, tán mịn, luyện mật làm hoàn. Mật, thuốc tỷ lệ mỗi thứ 1/2, mỗi hoàn 10g, mỗi lần uống 1 -2 hoàn, ngày uống 1 - 3 lần liên tục trong 12 năm. Đã trị 46 ca nghi ung thư thực quản và tế bào thực quản tăng sinh, kết quả ung thư hóa 1 ca, ổn định 4 ca, tiến bộ tốt 41 ca. Đối với tế bào thượng bì thực quản tăng sinh, tỷ lệ tiến bộ tốt 89,1% ( Bệnh viện Ung thư tỉnh Hà Bắc: Nhận xét bước đầu về kết quả điều trị tế bào thượng bì thực quản tăng sinh bằng Lục vị Địa hoàng hoàn, Tạp chí Tân y dược học 1977,7:15).
Liều lượng thường dùng và chú ý lúc dùng:
Nguồn tin: theo GS Trần Văn Kỳ - Dược học cổ truyền - Ảnh sưu tầm từ Internet
THÁI BẠCH
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
THANH LINH
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền
XA TIỀN TỬ
THANH LÃNH UYÊN