
Tính vị qui kinh:
Tác dụng lâm sàng: giảm đau, giảm sốt kháng sinh rõ rệt, không thấy độc tính.
Thành phần hóa học: tinh dầu, rất nhiều muối vô cơ.
Công dụng: nhân dân Bắc Ninh, Bắc Giang và nhiều nơi khác vẫn dùng cây sài đất ăn sống như rau với thịt hay cá. Một số nơi khác dùng trị rôm sảy, phòng sởi, chữa báng, sốt rét.
Từ cuối năm 1961, Bệnh viện Bắc Giang đã sử dụng điều trị có kết quả mọi trường hợp viêm tấy ngoài da, ở khớp xương, ở răng, vú, sưng cơ, sưng khớp nhiễm trùng, lở loét, mụn nhọt, chốc đầu, đau mắt v.v..
Hiện nay, việc sử dụng Sài đất được phổ biến rộng rãi, có nới đã dùng Sài đất chữa viêm bàng quang có kết quả tốt ( Bệnh viện khu Hai Bà, Hà Nội năm 1966)

Liều dùng:
Thời gian điều trị từ 1 - 2 ngày, nhiều nhất 5 - 7 ngày.Hiện nay có nơi chế thành dạng xi-rô, ống để uống ( Bộ môn Dược liệu trường đại học Dược Hà Nội), thuốc bột, thuốc viên.
Chú thích chống nhầm lẫn: Hiện nay có 2 cây thường dùng nhầm với cây Sài đất:
Nguồn tin: từ internet
THÁI BẠCH
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
THANH LINH
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền
XA TIỀN TỬ
THANH LÃNH UYÊN