
Thành phần chủ yếu: trong quả Ngưu bàng có 23 - 30% chất béo, một glycoz gọi là Actiin.
Tác dụng dược lý:
1.Giải cảm sốt ( sơ tán phong nhiệt) thuốc có tác dụng lợi tiểu, hạ sốt kháng khuẩn, nước sắc thuốc có tác dụng kháng khuẩn rõ rệt đối với phế cầu khuẩn.
2.Giải độc thúc sởi mọc, lợi yết tán kết theo dược lý cổ truyền.

Ứng dụng lâm sàng:
Liều thường dùng: 4 - 12g.
Chú ý lúc dùng thuốc: Ngưu bàng tử còn có tên Đại đao tử, Á thực, Hắc phong tử, thử niêm tử. Tây y dùng rễ Ngưu bàng làm thuốc thông tiểu, ra mồ hôi, chữa tê thấp, đau sưng khớp, hắc lào, mụn trứng cá lở loét. Còn dùng trị bệnh tiểu đường ( cao rễ ngưu bàng có tác dụng hạ glucoza máu), hoặc chữa mụn nhọt, ngày uống 3 lần, mỗi lần 0,6g cao thuốc ( hoặc bột) trong 3 ngày.
Không dùng đối với người bị tiêu chảy do tỳ hư.
Nguồn tin: theo GS Trần Văn Kỳ - Dược học cổ truyền - Ảnh sưu tầm từ Internet.
THÁI BẠCH
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
THANH LINH
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền
XA TIỀN TỬ
THANH LÃNH UYÊN