
Vì người ta phát hiện cây Riềng mọc ở vùng Cao lương nên có tên gọi là Cao lương khương. Cây Riềng mọc hoang hoặc được trồng khắp nơi ở nước ta để làm gia vị và làm thuốc. Tại Trung quốc, Riềng mọc nhiều tại các tỉnh Quảng đông, Quảng tây, Đài loan, Vân nam.
Tính vị qui kinh:
Riềng vị cay, tính nóng, qui kinh Tỳ Vị.
Theo các sách cổ:
Thành phần chủ yếu:
Trong rễ củ riềng có 0,5 - 1,5% tinh dầu. Thành phần có carineole, methyl cinnamate, eugenol, pinene, cadimene, galangin, kaempferide, kaempferol, quercetin, Isorhamnetin, galangol.
Tác dụng dược lý:
A.Theo Y học cổ truyền:
Riềng có tác dụng ôn tỳ vị, chủ trị các chứng đau bụng lạnh, nôn, tiêu chảy.
Trích đoạn Y văn cổ:
B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Ứng dụng lâm sàng:
1.Trị đau bụng do hàn, nôn ra nước trong, đau bụng do sa đì (sán khí): dùng bài:
2.Trị nôn ói do vị hàn:
Liều lượng dùng và chú ý:
+ Sách Bản thảo kinh sơ viết: " vị hỏa sinh nôn, thương thử hoắc loạn, tiêu chảy hỏa nhiệt tâm hư gây đau, kî dùng".
Phụ lục: HỔNG ĐẬU KHẤU
Hồng đậu khấu là quả của cây Cao lương khương to Alpinia galanga (L) Will.
Dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Dược tính bản thảo đời Đường. Tính vị cay ôn, qui kinh Tỳ vị, có tác dụng ôn trung tán hàn, hành khí chỉ thống.
Chủ trị chứng đau bụng lạnh do hàn thấp nôn, tiêu chảy không muốn ăn, cũng có thể tán bột mịn xát răng trị đau răng.
Liều dùng cho vào thuốc thang: 3 - 6g, dùng tươi.
Trường hợp âm hư nhiệt không dùng.
Nguồn tin: theo GS Trần Văn Kỳ - Dược học cổ truyền - Ảnh sưu tầm từ Internet
THÁI BẠCH
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
THANH LINH
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền
THANH LÃNH UYÊN
THÁI ẤT