
Cây Cau được trồng khắp nơi ở nước ta. Quả cau chín hái về bỏ vỏ phơi khô, khi dùng thái phiến dùng sống. Nếu lấy miếng hạt cau bỏ vào chảo dùng lửa nhỏ sao cháy vàng lấy ra để nguội dùng. Hạt cau còn gọi là Đại phúc tử.
Tính vị qui kinh:
Hạt cau vị cay đắng tính ôn, qui kinh Vị Đại tràng.
Theo các sách thuốc cổ:
Thành phần chủ yếu:
Arecolin, areca red, arecaidine, guvacine, guvacolin, arecolidine, homoarecolin, catechin.

Tác dụng dược lý:
A.Theo Y học cổ truyền:
Binh lang có tác dụng: sát trùng, tiêu tích hành khí, lợi thủy.
Chủ trị các chứng sán lãi, nhiều loại ký sinh trùng đường ruột, thực tích khí trệ, bụng đầy tiện bón, chứng tả lî mót rặn, phù (thủy thũng), cước khí sưng đau.
Trích đoạn Y văn cổ:
B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:
Ứng dụng lâm sàng:
1.Trị sán (taeniasis):
2.Trị giun kim (oxyuriasis):
3.Trị sán lá (fasciolopsiasis):
4.Trị táo bón bụng đầy, do thực tích khí trệ:
5.Trị sốt rét:
Thường sơn 3g, Thanh bì, Trần bì, Chích thảo, Binh lang, Thảo quả nhân đều 2g, sắc nước uống, có thể gia thêm tí rượu, uống trước khi lên cơn 2 giờ.
Liều lượng và chú ý:
Phụ chú: ĐẠI PHÚC BÌ
Đại phúc bì là vỏ quả cau còn gọi là Binh lang bì, Đại phúc bì, Binh lang y. Vị cay tính hơi ôn, qui kinh Tỳ Vị Đại tràng Tiểu tràng. Có tác dụng hạ khí khoan trung, lợi thủy tiêu thũng.
Dùng trị các chứng thấp trở khí trệ, vùng thượng vị đầy tức, phù, cước khí.
Liều lượng thường dùng: 3 - 10g.
Nguồn tin: ( Theo GS Trần Văn Kỳ - Dược học cổ truyền) - Ảnh sưu tầm từ Internet.
CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH - Tập 1
SINH LÝ BỆNH QUÁ TRÌNH VIÊM
Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi
THỦ THUẬT " THIÊU SƠN HOẢ" ĐỂ CẮT CƠN ĐAU TRONG LOÉT HÀNH TÁ TRÀNG
214 bộ thủ chữ Hán – Cách học các bộ thủ tiếng Trung dễ nhớ
Ứng dụng của Kinh Dịch trong đời sống và lý luận Y học cổ truyền
ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT GIẤC MỘNG!
Thời bấm huyệt - châm cứu học - Nguyễn Văn Thang
Vinh hoa phú quý của đời người chẳng qua chỉ là một đống rác bỏ đi".
VẬN DỤNG NHÓM HUYỆT " GIÁP TÍCH HOA ĐÀ" TRONG ĐIỀU TRỊ CHỨNG "CAN VỊ BẤT HÒA"